Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặc sản bắc giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặc sản bắc giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Chè đỗ đãi món ngon đặc sản của Bắc Giang

Trong những món ngon khó quên đặc sản ở Bắc Giang, không thể không kể đến món chè đỗ đãi (đậu đãi) ngọt ngào của làng Mỹ Độ - một ngôi làng nhỏ nằm ven bờ sông Thương.
Bên cạnh các đặc sản có tiếng như: mỳ Chũ, bánh đa Kế, vải thiều Lục Ngạn… chè đỗ đãi là món đặc sản rất dẫn dã thường thấy vào dịp lễ, Tết.

Nghệ nhân Phan Thị Thêm ở làng Mỹ Độ đã có gần 20 năm gắn bó với món chè này. Cô cho biết để làm được một mẻ chè ngon phải trải qua nhiều công đoạn.

Trước khi nấu chè, phải ngâm đỗ vào nước trong vòng 3 tiếng. Đỗ sau đó phải đãi kỹ lưỡng, không còn sót vỏ hạt. Để đãi được hàng chục kg đỗ sạch vỏ trong thời gian nhanh nhất cũng đòi hỏi sự khéo léo của người trong nghề.
Đỗ đãi vỏ, đổ vào nồi, cho nước trên đốt ngón tay thì bắt đầu nổi lửa. Khi nấu phải dùng củi, vì củi giúp giữ nhiệt lâu, lại có thể điều chỉnh ngọn lửa cho phù hợp. Công đoạn này phải canh lửa thật khéo, vì lửa to, nồi chè dễ bén mà lửa nhỏ, đỗ sượng không chín đều cũng coi như hỏng.

Khi đỗ sủi phải hớt hết bọt, ninh cạn, giảm lửa, vần nồi chè trên bếp bằng nhiệt than củi cho đỗ chín đều. Khi đỗ bắt đầu nhuyễn, là lúc cho đường vào. Cứ 1 kg đỗ thì 1,3 kg đường, nếu thiếu đường, chè sẽ không sánh, dễ vữa khi đổ khuôn.
Sau khi cho đường vào, chè dễ bén nồi vì thế điều chỉnh ngọn lửa chỉ liu riu trên bếp. Lúc này, khâu quấy chè là rất quan trọng. Quấy liên tục, đều tay, càng quấy nhiều, chè càng nhuyễn, càng sánh. Đun nồi chè thông thường hết 5 tiếng thì riêng việc quấy chè đã mất gần 3 tiếng. Quấy chè đến khi chè trong nồi sóng sánh như mật thì cho vani vào và bắc nồi chè xuống bếp.



Để đĩa chè đẹp mắt, khâu múc chè cũng phải có kỹ thuật, phải múc khi nóng đổ đều tay quay tròn trên đĩa để chè thành khuôn, phẳng tròn. Lúc này rắc vừng đã rang chín vàng, sẩy sạch vỏ lên trên mặt đĩa chè.

Đêm trăng rằm sau khi thắp tuần nhang mời ông bà tổ tiên, đĩa chè được hạ xuống, chủ nhà ngồi nhâm nhi chè bên ấm trà xanh thật sảng khoái. Ngày nay, trong nhiều mâm cỗ, chè đỗ đãi được đặt trang trọng như một món tráng miệng khoái khẩu. Hơn thế, nhiều người còn coi như món quà quê hương được vận chuyển đi những vùng đất xa xôi.

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Đặc sản rựu men lá của người Nùng, Bắc GIang

Rựu men lá, một tên loại rựu vô cùng lạ tai chắc hẳn chưa nhiều người miền trong biết được loại rựu này. Rự men lá của người Nùng là một trong những đồ uốn nổi tiếng của Bắc Giang và của vùng núi nơi đây mà ai khi nghe tên cũng mong một lần được thưởng thức loại rựu men lá này.
Ai đã từng đến vùng đất vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), được thưởng thức rượu Kiên Thành – loại rượu được ủ bằng men lá đặc trưng của dân tộc Nùng nơi đây chắc không thể nào quên. Đó là rượu có hương thơm tự nhiên của lá cây rừng, uống rất dịu êm và đặc biệt là không bị đau đầu… hơn hẳn nhiều loại rượu khác.

Rựu men lá đặc sản của người Nùng

Rựu men lá đặc sản nổi tiếng nơi đây.

Cùng với các sản vật thơm ngon nổi tiếng của quê hương Lục Ngạn như vải thiều, cam đường Canh, nếp cái hoa vàng, mỳ Chũ, mật ong… thì từ lâu, sản phẩm truyền thống rượu men lá của người Nùng ở xã Kiên Thành (hay còn gọi là rượu Kiên Thành) đã được nhiều người biết đến như một đặc sản của vùng đất vải thiều. Chính bởi những đặc trưng riêng không thể pha chộn như: rượu luôn dịu êm dễ uống (dù nồng độ cao); luôn có hương thơm tự nhiên của lá cây rừng và đặc biệt là thực khách không bị đau đầu cho dù có vô tình uống đến say… nên sản phẩm rượu men lá Kiên Thành ngày càng được nhiều người ưa chuộng.

Tuy nhiên, để trưng cất được những giọt rượu men lá Kiên Thành thơm ngon nổi tiếng, bà con dân tộc Nùng ở nơi đây đã phải vất vả thực hiện nhiều công đoạn từ: việc lên rừng hái lá làm men, đến việc chọn gạo nấu cơm, rồi bắt men lá vào cơm, sau đó ủ men, rồi trưng cất rượu… Trong đó, mỗi một công đoạn lại đòi hỏi kỹ thuật và cả sự tỉ mỉ khéo léo riêng.

Để tìm hiểu sự tinh túy của rượu men lá Kiên Thành, chúng tôi đã tìm đến gia đình ông Lăng Văn Nam, dân tộc Nùng ở thôn Gai Đông, xã Kiên Thành, người đã có hơn 20 năm kinh nghiệm làm men lá rừng để cung cấp cho người dân địa phương nấu rượu. Ông Nam cho biết, nguyên liệu để tạo nên những chiếc men lá gồm có 5 loại cây theo tiếng Nùng gọi gồm: Cây trăm rễ, lá cây giời giời, cây hoa vàng, lá cây tai chó và cây vạt hương. Thiếu đi một loại lá cây rừng này, thì chất lượng rượu nấu sẽ ít thơm và không ngon. Sau khi vất vả đi hái đủ 5 loại lá cây này rồi, đầu tiên sẽ phơi khô nhằm bảo quản tốt. Bước tiếp theo đun dây và lá cây giời giời lên lấy nước để nguội, sau đó ngâm với gạo khoảng 2 tiếng. Sau khi ngâm xong đem gạo và 4 loại lá còn lại đi nghiền nhỏ về lặn lẫn với bột gạo, rồi ủ vào chấu và phủ kín lên.
Thêm chú thích


Thêm chú thích

Công đoạn trưng cất rượu và thử rượu men lá vừa mới trưng cất

Đó là những công đoạn cần thiết để tạo nên những quả men lá đặc trưng trong cách nấu rượu của người Nùng ở Kiên Thành. Tuy nhiên công đoạn nấu rượu Kiên Thành cũng công phu không kém. Với hơn 10 năm kinh nghiệm nấu rượu men lá Kiên Thành, hiện gia đình anh Lương Văn Vượng, chị Phùng Thị Thảo trung bình mỗi ngày nấu được gần 100 lít rượu để cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh Bắc Giang. Theo chị Thảo, muốn nấu rượu men lá ngon, trước tiên phải chọn được men lá của gia đình bảo đảm chất lượng. Sau đó chọn gạo ngon nguyên chất về xay ra. Lúc nấu cơm phải nấu thật chín rồi “bắt men lá” vào cơm cho đều đến từng hạt (bắt men càng đều thì sau này rượu càng ngon); tiếp đến phải ủ kín cơm đã bắt men vào thùng nhựa kín từ 2 – 3 ngày, không được mở; tiếp đến cần ủ khô cơm đã bắt được men lá từ 10 đến 12 ngày nữa. Sau đó mới được đổ nước vào cất thành rượu. Ở công đoạn trưng cất rượu, bà con người Nùng sử dụng phương pháp cất ba ba (lưu ý ba ba phải được làm bằng gỗ mít và ống dẫn rượu được làm bằng tre thì rượu mới ngon); trong quá trình cất phải đun đều lửa, không cho cháy to quá cũng không nhỏ quá để rượu ra từ từ. Nếu đun to qua rượu ra nhanh sẽ mất mùi thơm. Thông thường mỗi kg gạo bà con nơi đây trưng cất được 1 lít rượu men lá.

Cũng bởi những đặc trưng của rượu men lá Kiên Thành là uống dịu êm và có hương thơm tự nhiên nên không ít người lần đầu uống rượu Kiên Thành cứ ngỡ rằng rượu nhẹ, họ thoải mái nâng ly trong cuộc vui rồi say tự lúc nào không biết. Có một điều hay là tuy chếnh choáng hơi men của rượu Kiên Thành nhưng người uống không bị đau đầu và khi hết hơi rượu lại tỉnh táo như thường, không bị mệt mỏi. Vì thế mà đã từ lâu, rượu Kiên Thành đã trở thành thương hiệu nổi tiếng sáng ngang cùng với các sản vật khác của núi rừng Lục Ngạn như vải thiều, mỳ Chũ, mật ong…

Nhớ mãi hương vị ngọt lịm vải thiều Lục Ngạn

Vải thiều một trong những đặc sản nổi tiếng của huyện Lục Ngạn, Nhắc đến vải thiều Lục Ngạn ai trong mổi chúng ta đều có một cãm nhận được vị ngon ngọt đặc trưng của loại đặc sản Bắc Giang này khi mà đã được một lần nếm thử. Vải thiều Lục Ngạn luôn luôn là một thương hiệu trái cây nổi tiếng.
Nằm cách thành phố Bắc Giang 40 km về phía Đông Lục Ngạn là một huyện miền núi được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp như hồ Khuôn Thần, Cấm Sơn, đập Làng Thum… Khí hậu của Lục Ngạn khá ôn hoà với nền nhiệt độ trung bình thấp. Đặc biệt Lục Ngạn còn được biết đến là địa phương có nhiều sản vật nổi tiếng nhất là quả vải thiều.


Từ thành phố Bắc Giang thẳng quốc lộ 31 mất khoảng 1 giờ xe chạy chúng ta đến thị trấn Chũ trung tâm huyện Lục Ngạn. Nếu đến Lục Ngạn vào khoảng tháng 3 bạn sẽ được thưởng thức cảnh trí nên thơ của Lục Ngạn khi hoa vải nở trắng bên những vòm đồi lúp xúp và xa xa thấp thoáng những mái nhà của người dân địa phương. Nhưng vào khoảng thời gian từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7 Lục Ngạn trở nên đông đúc, nhộn nhịp lạ thường bởi vải thiều đã vào mùa thu hoạch. Vào khoảng thời gian này đứng ở bất kỳ đâu trên đất Lục Ngạn phóng tầm mắt ra xa bạn cũng bắt gặp hình ảnh những chùm vải chín mọng đỏ lúc liủ trên cây. Đây cũng là mùa người dân Lục Ngạn bận rộn nhất trong năm. Bởi ở Lục Ngạn nhà ít cũng có vài chục cây vải, nhiều thì hàng trăm, hàng nghìn cây. Mọi người ai nấy đều tập trung cho việc thu hoạch vải thiều và trên những gương mặt mướt mát mồ hôi do lao động vẫn ánh lên những niềm vui được mùa sau một năm lao động vất vả. Hiện toàn huyện Lục Ngạn có khoảng 20.000 ha vải thiều mỗi năm cho sản lượng khoảng từ 60 đến 70 ngìn tấn. Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang được ưa chuộng trong cả nước vì thế vào mùa vải các thương lái từ nhiều tỉnh như Hà Nội, Quảng Ninh và các tỉnh phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…đến thu mua. Vải thiều còn được xuất khẩu sang một số nước khác như Trung Quốc, các nước ASEAN và được chế biến thành vải thiều sấy khô, đóng hộp để xuất khẩu và phục vụ người yêu thích vải thiều có thể được thưởng thức quanh năm. Vào thời điểm này tại Lục Ngạn đã có rất nhiều đại lý thu mua vải thiều của người dân địa phương được hình thành tại các điểm tại thị trấn Chũ, xã Phượng Sơn, Quí Sơn, Trù Hựu…. Các đại lý này sẽ mua gom vải của người dân trên địa bàn rồi ký hợp đồng bán lại cho các thương lái từ nơi khác đến.

Vải thiều được trồng ở Lục Ngạn khoảng vào những năm 90 của thế kỷ trước bởi những người nông dân quê gốc Hải Dương. Với sự cần mẫn hay lam hay làm người dân Lục Ngạn đã biến những vùng đồi khô cằn trước đây thành những đồi vải bạt ngàn mang lại sự no ấm cho những người trồng vải. Cây vải ở Thanh Hà vốn đã thơm ngon nổi tiếng lại được trồng ở vùng đồi đất đỏ pha lẫn sỏi trong vùng khí hậu ôn hoà của Lục Ngạn đã tạo thành một thứ quả ngon ngọt khiến người thưởng thức mê ly. Có thể nói mức độ thơm ngon của vải thiều đã vượt qua vải Thanh Hà và dành được rất nhiều cảm tình của người sành hoa quả trong cũng như ngoài nước. Quả vải thiều Lục Ngạn có đặc điểm khi chín có màu đỏ, vỏ mỏng, hạt nhỏ cùi dày khi ăn vải thiều có vị ngọt đậm khiến người ăn cứ muốn thưởng thức thêm và muốn mua thật nhiều để làm quà cho người thân.

Trong chuyến hành trình đến Vải thiều Lục Ngạn thăm vùng đất và thưởng thức vị thơm ngon vải thiều Lục Ngạn nổi tiếng các bạn có thể đến thăm hồ Khuôn Thần nằm cách thị trấn Chũ 10km. Hồ Khuôn Thần rộng 240 ha với nhiều đảo nổi có vẻ đẹp thanh bình, khí hậu mát mẻ được bao bọc bởi những đồi thông xanh tốt quanh năm. Tại Khuôn Thần các bạn có thể dạo chơi trên hồ bằng những chiếc thuyền nhỏ và đến thăm các trang trại của người dân địa phương. Từ thị trấn Chũ nổi tiếng với Mì chũ các bạn cũng có thể đi thêm hơn 35 km nữa đến hồ Cấm Sơn, đi thăm trại nuôi cá nước lạnh, cắm trại trên đảo và bạn có thể ngỡ ngàng về vẻ đẹp thơ mộng của hồ….

Nhớ hương vị xôi trứng kiến Lục Ngạn, Bắc Giang

Xôi trứng kiến Lục Ngạn, thưởng thức món xôi trứng kiến lạ lẫm khó quên, về Lục Ngạn Bắc Giang thưởng thức đặc sản có một không hai là món xôi được làm từ trứng kiến. Hãy cùng với đặc sản miền bắc tìm hiểu thêm về món xôi trứng kiến đặc biệt này nhá các bạn.
Xôi trứng kiến một món ăn đặc sản khó quên của Lục Ngạn
Kiến đen thường làm tổ trên thân vầu. Những bãi vầu mọc ken dày đặc là nơi cư ngụ của loài kiến đen. Tổ kiến to bằng hai, ba vốc tay, dễ trông thấy từ xa. Tổ thường được xây chỗ đốt cây vầu có mắt và chỉa ra cành dăm. Đó là chỗ bám chắc nhất.

Lấy trứng kiến làm món xôi đặc sản

Đi lấy trứng kiến chẳng có gì khó. Vít cây vầu, chặt những tổ kiến đem ra chỗ đất trống. Sau đó cầm dao bổ đôi tổ kiến, gõ cho trứng rơi xuống mẹt. Những cái trứng trắng phau nhỏ như hạt gạo nếpvung vãi. Những con kiến thợ bị rũ ra từ trong tổ bất giác bừng tỉnh thấy cuộc sống bị đe dọa, chúng rối rít ôm lấy một quả trứng rồi lao đi tán loạn dù chẳng biết có thoát hiểm không, nhưng còn sống còn đi, và không thể quên bồng theo quả trứng. Một bản năng về trách nhiệm duy trì giống nòi luôn thức trong loài vật li ti lớn hơn đầu que tăm. Mỗi khi một con bám được vào tay người chúng giận dữ ghé chiếc hàm bé xíu cắn rứt gây ngứa ngáy đến khó chịu. Lấy được bát trứng kiến về làm xôi, người ta phải phá đến cả vài chục tổ kiến và hàng triệu kiến đen tan nát cửa nhà, hàng triệu kiến đen lìa đời.

Sau khi rũ được lưng mẹt trứng thì dùng khăn ẩm phủ lên mặt mẹt rồi kéo qua kéo lại cho nhũng con kiến chết dính hết vào lớp tua sợi trên mặt khăn, làm cho đến lúc mẹt trứng trắng phau.

Được bát trứng kiến đồ xôi quả thật là một kỳ công.

Vị bùi béo đậm đà khi được ăn bát xôi trứng kiến bám riết tuổi thơ tôi, bám riết cả cuộc đời, kèm nỗi buồn thoáng chốc khi nhớ đến đàn kiến đen tán loạn…

Mùa xôi trứng kiến bây giờ chỉ còn ẩn trong kí ức.

Những bãi vầu, bãi hóp, bãi vẫn từ lâu đã không còn. Tôi bảo đó có phải là lí do để kiến đen thôi không còn làm tổ, thì thằng cháu con ông bạn vong niên cho biết: "Bây giờ rừng chia, khoảnh nào có chủ ấy nên không có những đàn trâu thả rông như những năm xưa. Không có trâu thả rông thì không có phân làm vật liệu cho kiến đen xây tổ. Với lại bây giờ trâu còn rất ít lắm, còn bao nhiêu ruộng mà cần đến trâu….

Cuộc sống đã chuyển sang hướng khác. Bát xôi trứng kiến chỉ còn trong kí ức lớp người như tôi. Những lớp sau này sẽ chỉ còn biết xôi trứng kiến trên tài liệu ghi chép.

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Về Bắc Giang thưởng thức đặc sản cua da nổi tiếng

Cua da bắc giang, đặc sản của da ở Bắc giang về bắc giang thưởng thức hết các món ẩm thực món ngon đặc sắc nhất xứ kinh Bắc. Hãy cùng đặc sản miền bắc điểm danh thêm một món cua da một sản phẩm đặc sản của người dân Bắc Giang nhá.

Cua da đặc sản nổi tiếng của Bắc Giang

Thưởng thức món cua da đặc sản nổi tiếng của Bắc GIang

Nếu có dịp về với đất Yên Dũng (Bắc Giang) vào cữ gió heo may về, thế nàobạn cũng sẽ được chiêu đãi một trong những món ngon và hiếm bởi lònghiếu khách của người dân nơi đây được chế biến từ Cua Da.

Có một loài cua sống trong các ghềnh đá ở đoạn sông Cầu chảy qua địa phận mộtsố xã ven sông huyện Yên Dũng (Bắc Giang) như: Đồng Việt, Đồng Phúc, ThắngCương mà dân trong vùng quen gọi là “Cua Da”. Loài cua này rất đặc biệt ở chỗ chỉxuất hiện và khoảng đầu Đông trong thời gian khoảng 2 tháng (tháng 9 và tháng 10âm lịch) hàng năm.

Đây là một loài cua sông to gần bằng con ghẹ, về hình thức cơ bản cua da trông giống loàicua đồng, nhưng chân dài, mình to gấp ba, bốn lần cua đồng và mang một số đặcđiểm khác biệt với họ nhà cua. Đó là hai càng của giống cua này có hai lớp lông nhưrêu bám vào, yếm cua cũng có lớp diềm rêu điệu đà. Chính cái lớp lông rêu này đãkhiến nhiều người băn khoăn về tên gọi của loài cua này là: “Cua Da, Cua Da hay làCua Gia?”. Có người nói rằng phải gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Thángchín cua ra, tháng ba cua vào”. Có người lại nói phải gọi là “cua da” vì loài cua nàycó một lớp da trên càng. Có người lại bảo phải gọi là “cua gia”, vì đơn giản tên gọiấy nghe có vẻ hay hơn, hợp lý hơn.

Theo anh Phạm Văn Trường, 42 tuổi ở xóm Cựu Trên, xã Đồng Phúc, Yên Dũng-người có thâm niên trong nghề thu gom và bán Cua Da cho các nhà hàng đặt sẵntrong huyện, thành phố và một số tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội cho hay: “Khoảng hơn 10năm về trước, người đi chài lưới rất ghét loại cua này vì nó rất tanh. Nhưng từ khingười dân biết ăn cua bằng cách hấp bia, có xả, gừng nhâm nhi cùng thứ rượu nếpthơm nồng nút bằng lá chuối; biết giã ra nấu riêu ăn với bún có kèm rau sống cùngmột chút hoa chuối thì nó trở thành đặc sản”.

 Thu nhập từ cua đã giúp một số hộ dân nơi đây giảm nghèo, có cuộc sốngấm no. Tuy nhiên, do giá trị tăng cao nên nhiều người đi săn lùng cua da, do vậylượng cua ngày càng hiếm. Đặc biệt, nó chỉ có ở một số khúc sông thuộc địa phậnvài xã vùng hạ Yên Dũng, và xuất hiện trong vòng hai, ba tháng rét cuối năm nên giátrị của cua da ngày càng tăng do xuất phát từ yếu tố “hiếm” mà thành “quý” chăng?

Theo kinh nghiệm của người dân làng chài nơi đây, Cua Da có thể được chế biếnthành nhiều món như: cua hấp bia, cua rang muối, cua chiên, cua giã nấu canh…Nhưng ăn cua da ngon nhất và đơn giản nhất là đem hấp bia. Bỏ cua vào thùng, xảnước và xóc mạnh cho sạch. Mỗi con cua to nặng từ 100g-200g, xếp vào nồi, rắcthêm chút bột canh, bỏ thêm xả, gừng, rót bia xâm xấp mình cua, đặt lên bếp. Đểlửa thật nhỏ, đun li ti cho đến khi bia sôi lăn tăn thì bật lửa to cho sôi bồng lên là bắcra. Lửa nhỏ để giữ cho càng và chân không bị rụng, đồng thời để gia vị ngấm, khửmùi tanh.

Khi cua chín có màu vàng cam rất hấp dẫn. Thịt cua ngọt, lớp vỏ ở chân và càng cua khámềm, khi ăn không cần dùng đến kẹp như cua hay ghẹ biển. Ăn cua da chấm bột canh phamù tạt kèm nửa quả chanh vắt vào thì không gì thú vị bằng. Thật cảm ơn cho người đưa móncua này vào thành món đặc sản. Nó không chỉ giúp người dân nơi đây tăng thêm thu nhập,mà còn góp phần đưa vùng đất này có thêm một món đặc sản “của hiếm Cua Da”.

Bánh đa kế đặc sản quê dân dã của Bắc Giang

Bánh đa kế, bánh đa kế đặc sản Bắc Giang, tìm hiểu cách chế biến và làm ra món bánh đa kế đặc sản Bắc Giang. Từ một món ăn miền quê dân dã, bình dị, ngày nay bánh đa nướng trở thành đồ ăn không thể thiếu trên bàn nhậu của người dân thành thị. Nói đến bánh đá nướng, ngon và nổi tiếng nhất phải kể đến bánh Kế ở Bắc Giang. Món ăn chơi tưởng chừng khô khốc lại trở nên giòn tan, bùi lạ dưới bàn tay khéo léo của người dân làng Kế - ngôi làng cổ thuộc xã Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang.
Bánh đa kế món quà quê dân dã
Vào những ngày nắng khi đi ngang qua Dĩnh Kế, ai nấy đều thích thú trước khung cảnh hàng trăm chiếc phên phơi bánh đa tròn, trắng muốt, dọc theo quốc lộ 1A, trong đường làng, ngõ xóm, sân nhà. Người dân làng Kế làm bánh đa quanh năm, đặc biệt nhộn nhịp vào những lúc nông nhàn. Bánh đa kế thoạt nhìn cũng giống bánh tráng nước dừa Bình Định nhưng khi ăn lại có hương vị hoàn toàn khác, và cũng không giống như bánh tráng Mỹ Lồng của bến tre luôn.. mà nó có một vị rất khác, rất đặc trưng của nơi này.

Để làm nên những chiếc bánh đa kế mang đậm đà hương vị quê hương, thoạt nhìn rất đơn giản, nhưng thực ra lại đòi hỏi sự công phu, khéo léo. Nguyên liệu chính làm bánh đa Kế là gạo loại ngon, ngâm nước để căng mọng rồi xay nhuyễn, tạo thành bột mịn, trắng muốt. Theo kinh nghiệm của người dân làng Kế, để có được chiếc bánh hảo hạng thì khâu quan trọng nhất là tráng bánh.

Tuy tráng bánh đa có nhiều điểm tương đồng với tráng bánh cuốn nhưng nó đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt khéo léo của người thợ lành nghề. Là loại bánh dùng để nướng nên khi tráng phải dày hơn. Bánh được tráng hai lần, sau khi lớp một chín nhưng vẫn còn ướt, lớp hai được trải đều ngay trên lớp một, tuy nhẹ tay nhưng đều và phẳng.

Trăm hay không bằng tay quen, hàng trăm chiếc bánh tráng ra lò đều chằn chặn cả về kích thước lẫn độ dày. Chúng được khéo léo lấy ra khỏi nồi hơi bằng cách quấn quanh một ống nứa to và dài rồi trải đều ra phên, mà bánh vẫn không hề bị rách hay méo mó.

Điểm đặc biệt dễ nhận ra ở bánh đa Kế chính là lớp vừng lạc ở bên trên. Do đó, trước khi đem bánh ra phơi, người làng Kế thường rắc rắc một lượt vừng đen cùng lạc sống giã giập lên mặt bánh còn bốc hơi nóng hổi. Tuy nhiên, không phải rắc thế nào cũng được. Lạc vừng rắc phải đảm bảo trải đều trên mặt bánh, nhưng tập trung ở phần tâm để khi nướng lạc vừng chín tới. Điều này không những giúp bánh đa Kế ăn vừa miệng mà còn vừa mắt người ăn.

Phơi bánh đa kế đặc sản Bắc GIang cũng đòi hỏi kỹ thuật được đúc kết qua nhiều năm. Nắng không quá nhạt nhưng cũng không được quá gắt. Khi đủ thời gian để bánh se mặt nhưng vẫn dẻo, người làm nghề phải kịp thời gỡ bánh cho khỏi dính vào phên tránh bị vỡ, hoặc thủng, rồi mới lật bánh sang mặt bên kia và phơi tiếp cho đến khô kiệt, bánh mới giòn.

Trước khi đem bán, bánh được nướng quạt trên than hoa đỏ lửa. Khâu nướng không chỉ làm chín bánh mà còn giúp định hình dáng bánh. Một tay cầm bánh đa, một tay cầm chiếc quạt nan, người nướng phải quạt đều tay, liên tục, những chiếc bánh đa được lật đi lật lại thoăn thoắt cho đến khi chuyển sang màu vàng rộm, mùi hương thơm tỏa. Thi thoảng họ dừng lại uốn những chiếc bánh cho khỏi bị vênh, tròn đều.

Khi ăn những chiếc bánh đa có vị bùi, ngọt, giòn và thơm lừng. Thưởng thức món quà quê dân giã ấy là trải nghiệm một phần văn hóa trong đó mà theo như người Dĩnh Kế, đó là thưởng thức một loại hình ẩm thực truyền thống. Nó gợi nhắc đến hình ảnh những phiên chợ quê vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nơi các bà các mẹ vẫn hay đi chợ mua bánh đa Kê về làm quà cho con cháu.

Rựu làng Vân đặc sản không thể thiếu của Bắc Giang

Rựu làng Vân của Bắc Giang là một trong những đặc sản nổi tiếng của xứ này. Rựu làng Vân được ví và so sánh như Bàu Đá của BÌnh Định. Đặc sản Bắc Giang sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến thứ đồ uốn tinh hoa này. Hãy cũng đặc sản miền Bắc tìm hỉu và thưởng thức món đặc sản rựu làng Vân của Bắc Giang này nhá.

Du khách đến với Bắc Giang, say cảnh đẹp Bắc Giang, cảm cái tình người Bắc Giang và những tinh hoa ẩm thực vùng Kinh Bắc và để đến khi chia tay vẫn còn lưu luyến, vẫn còn quấn quýt không muốn rời. Cái cảm mến ấy đã được Hoàng Tuấn Anh- GĐ Trung tâm TTXTDL Hải Phòng cảm nhận. Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

Vân Hà, một địa danh nổi tiếng thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nơi lừng danh với đặc sản rượu làng Vân, thứ rượu đặc biệt thơm ngon đã làm biết bao người “say” trải qua nhiều thế hệ. Để đến cả những người đã thưởng thức của ngon vật lạ khắp bốn phương như bậc Đế vương Lê Hy Tông cũng chẳng kiệm lời ban sắc phong ngợi ca bằng mỹ từ “Vân hương mỹ tửu”. Người làng Vân nói riêng và người Bắc Giang nói chung tự hào với nghề nấu rượu làng Vân bởi qua mấy trăm năm, dưới các triều đại phong kiến, thứ rượu này từng là lễ vật tiến vua và thường xuyên sử dụng thưởng ẩm trong những yến tiệc chốn cung đình.


"Vân hương mỹ tửu lừng biển Bắc

Chiến công Như Nguyệt rạng trời Nam"

Rượu làng Vân nổi tiếng thơm ngon nhiều người biết. Đối với những người sành rượu và ưa thích những loại rượu dân tộc thì rượu làng Vân là thức uống đặc sản vùng miền có thể sánh ngang với bất cứ một loại whisky hảo hạng nào trên thế giới bởi vị đậm đà đặc trưng của hương nếp cái hoa vàng, hương thơm nồng của tới 35 vị men thuốc bắc bí truyền, cái êm dịu của thứ rượu được chắt lọc và ủ kỹ để lọai bỏ hết cái sốc của mùi cồn và hàm lượng aldehyde. Còn đối với những người không sành rượu thì chỉ một lần thưởng thức rượu làng Vân cũng đủ để không thể quên được bởi cái cảm giác ngọt ngào như đang nhấm nháp một ly cocktail hoa quả thơm mát lấn át vị cay nồng, càng uống càng mềm môi, uống từ lâng lâng tới lịm dần và khi tỉnh dậy chẳng có cảm giác của người vừa say rượu.

Rựu làng Vân đặc sản nổi tiếng của Bắc Giang
Giữa một thế giới rượu tây ta đủ loại ngày nay, về đất Kinh Bắc, thưởng thức đặc sản rượu làng Vân cùng những người bạn nơi đây tôi thật sự cảm thấy mình “say”. Say không chỉ bởi những ly rượu mềm môi thơm nồng, say không phải vì những chiếc bình gốm đựng rượu quý không bao giờ cạn, mà “say” cái tình, cái nghĩa từ những cái bắt tay thật chặt, “say” những liền anh, liền chị đất Bắc Giang giàu lòng hiếu khách nức tiếng từ ngàn xưa qua những làn điệu quan họ say đắm gọi mời.


Có về đất Bắc Giang thưởng thức rượu làng Vân mới hiểu hết ý nghĩa của hảo từ “Mỹ tửu”, mới hiểu hết ý nghĩa của việc thưởng thức rượu bởi rượu không chỉ cần phải thơm, ngon mà cách ứng xử trong văn hóa uống rượu cũng cần phải đẹp, chẳng thế mà mấy trăm năm về trước các bậc vua chúa lại chọn rượu làng Vân làm thứ để thưởng ẩm trong chốn cung đình quyền quý, cao sang. Chẳng thế mà không chỉ các bậc tiền bối xưa dành lời ca tụng bằng hảo từ “Mỹ tửu” mà những nghệ sỹ nay cũng cảm tác nên những lời hát đắm say:
Sông Cầu đầy, sông Cầu lại vơi, rượu Vân một chén cả đời vẫn say.
Rượu làng Vân chẳng uống mà say, nhớ câu quan họ mơ ngày xa xôi.

Về Bắc Giang thưởng thức mỳ chũ đặc sản nổi tiếng

Mỳ chũ đặc sản Bắc Giang một trong những đặc sản ngon nổi tiếng nhất của vùng đất này. Mỳ chũ cũng là mỳ nhưng cách làm và cách chế biến thì giống bánh tráng Bình Định, không giống như các loại mỳ khác.  Mỳ chũ Bắc Giang từ lâu đã trở thành thương hiệu, một trong những món quê hương được nhắc đến nhiều nhất khi du lịch Bắc Giang . Hãy cùng đặc sản miền bắc cập nhật món ăn này nhá.

Cách Hà Nội chừng 1 giờ 30 phút đi xe máy theo đường Thăng Long - Nội Bài là tới thành phố Bắc Giang. Không hẳn là đi thăm thú, chỉ đơn giản là "phượt" một chuyến để ngó dọc ngang xem trên đường đi có những gì, để hít thở một chút không khí ở bên ngoài thành phố ngột ngạt ngày hè, để ngắm sông Hồng từ cầu Thăng Long lúc bình minh và khi hoàng hôn biếc tím.
Mỳ chũ đặc sản nổi tiếng của Bắc Giang
Đã về Bắc Giang là phải ăn mỳ Chũ và uống nước chè đắng. Các loại lẩu ở Bắc Giang đều có kèm mỳ Chũ - những sợi bánh mảnh, giòn, được bó lại thành từng bó, gọn gàng đặt trong đĩa. Khi ăn cho vào nồi lẩu nhúng đến chín. Bánh chín rất mềm, dai, khi ăn cảm nhận được vị dẻo và thơm của gạo. Mỳ Chũ Bắc Giang khi nhúng và nấu trong nồi lẩu không bị đục nước nên được người dân rất ưa chuộng. Một nồi lẩu thập cẩm ở Bắc Giang ăn với mỳ Chũ khá rẻ, ăn đến no và uống đến say cũng chỉ hết 200 đến 300 ngàn đồng cho 4 - 5 người.

Đến với Bắc Giang, nếu đã một lần được ngồi vỉa hè và nhâm nhi ly chè đắng Cao Bằng trên miền đất của những làn điệu quan họ, bạn sẽ không thể nào quên được cái cảm giác thú vị, gật gù bên câu chuyện mưu sinh đêm của những chủ quán cóc nơi này. Chè thơm ở một cung bậc rất khó diễn tả. Hơi chè lảng vảng bốc lên trong những ngày đông, ấm lòng. Nhấp một chút để quen vị đắng, uống thật từ tốn, và cảm nhận vị ngọt còn lại đọng trên đầu lưỡi.

Các quán cóc bán chè đắng tập trung ở trung tâm thành phố, ở công viên, khu nhà ga, bến tàu. Quán nào cũng có cùng một kiểu ly Nhật Bản lùn, trắng, giữ nhiệt tốt. Chỉ nhìn màu chè xanh sóng sánh trong ly cũng đủ xao lòng...

Mỳ làng Chũ là đặc sản Bắc Giang, cách trung tâm thành phố không xa, nên bạn có thể đến tận nơi sản xuất để mua về làm quà. Chắc chắn, nó sẽ là món quà ý nghĩa cho chuyến "phượt" ngẫu hứng của bạn về Bắc Giang.

Bánh Tro, món ngon dân dã đặc sản Bắc Giang

Bánh tro (hay còn gọi là bánh gio)- ngay cái tên gọi đã khiến ngườinghe liên tưởng đến một món ăn đậm chất quê. Thực vậy, cũng như nhữngmón bánh khác, bánh tro là một món ăn dân dã, mộc mạc, dễ làm và rấtngon. Đây là một thức quà từ lâu đã trở thành đặc sản ẩm thực ở làng ĐaMai, xã Đa Mai, thành phố Bắc Giang (Bắc Giang)…

Sở dĩ có tên gọi là bánh tro vì nước dùng để ngâm gạo làm bánh và luộcbánh đều được lấy phần nước trong, lắng từ nước tro (gio) của nhiều loại cây khácnhau. Nếu như đối với nhiều nơi, bánh tro chỉ được làm vào các dịp Tết Đoan Ngọ(mùng 5 tháng 5), Tết Nguyên Đán thì với người dân làng Đa Mai bánh tro đượclàm hàng ngày để mang đi bán rộng rãi ở các chợ, ngõ phố và một số quán ăn dântộc trong khu vực nội thành.

Nguyên liệu để làm bánh tro rất đơn giản, gồm: gạo nếp, nước tro lá tầmgửi, vỏ bưởi, quả xoan, cây dền gai, rơm nếp (những thứ này được phơi khô rồi đốtthành tro)…, nước vôi trong, lá chuối hoặc lá dong. Làm bánh tro phải trải quanhiều công đoạn công phu và tỷ mẩn của những bàn tay khéo léo, từ khâu chọnnguyên liệu đến cách làm. Gạo để làm bánh phải là loại nếp cái hoa vàng, nhặt hếtnhững hạt tẻ lẫn vào, vo gạo bằng nước thật sạch, để ráo. Nước để làm bánh lànước tro( sau khi đốt các loại lá) được đánh kỹ với nước vôi trong. Dung dịch nướcvôi và tro phải trong, có màu vàng hổ phách mới đạt yêu cầu, sau đó cho gạo vàonước này ngâm một đêm.Không nên ngâm gạo quá lâu, khi đó bánh sẽ bị nồng.Ngâm khi nào ta lấy 2 đầu ngón tay dihạt gạo thấy vỡvụn là được. Khi vớt gạo góibánh cần phải xả với nước thật sạch, xóc với một chút muối, để ráo. Đây là côngđoạn cốt yếu để tạo nên hương vị thanh mát của bánh. Lá dùng để gói bánh trothường là lá dong tẻ được luộc hoặc hấp, tước hết phần gân lá cho mềm, dai và dễgói hơn. Đặc biệt, lá phải được lau khô trước khi gói.

Theo chị Nguyễn Thị Minh-người có kinh nghiệm lâu năm làm bánh tro ởthôn Đình, xã Đa Mai thì một chiếc bánh đạt yêu cầu phải tạo được cảm giác ngonngay từ khi mới được bóc ra chứ chưa cần thưởng thức. Bởi vậy, dáng hình và màusắc của bánh là rất quan trọng. Người gói bánh phải khéo léo cho gạo vào lòngchiếc lá sao cho gọn, đều rồi quấn lá và bẻ mép ở hai đầu bánh cho thật khít, thậtđều và cân đối, sao cho chiếc bánh nhìn nuột nà và có hình dáng đặc trưng. Ngườidân Đa Mai thường gói bánh dài giống như chiếc chuôi liềm để bán hàng ngày. Cònbánh vuông chỉ gói khi có người đặt bày cỗ. Dây buộc bánh cũng không được quáchặt để khi đem luộc, hạt gạo nếp có thể nở và chín đều.

Nước luộc bánh cũng cho một ít nước tro, dưới đáy nồi được lót một ngòn măng tređập dập cho khỏi sát nồi, người luộc bánh sẽ dùng một rổ lớn đậy lên bánh, lấy mộtvật nặng đè lên rổ để bánh không nổirồi đổnước ngập hơn bánh ít nhất khoảng 15-20cm.Đặc biệt, khi gói và luộc bánh tối kỵ dây vào mỡ, có mỡ là bánh bị ngân,không nhừ. Bánh luộc khoảng 3 – 5 giờ là rền sẽ được vớt ra để nguội. Khi bóc tấmbánh là một khối ngọc màu hổ phách trong vắt lộ ra, có thể nhìn thấu bên trong khốingọc đó. Cắt từng miếng nhỏ, nhẹ nhàng chấm vào bát mật mía màu vàng óng, thơmphức rồi nhẩn nha thưởng thức mới thấy hết sự hòa quyện ngọt mát...

Ngày nay, bánh tro được coi như một thứ quà quê của ngườithành phố. Cứvào mỗi buổi sáng hay chiều,đi trên đườngta lại bắt gặp những gánh hàng bán rongđi quanh các con phốvà những tiếng rao rất đỗi quen thuộc mỗi ngày“ai bánh trođơi…ơi…ơi!”.