Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặc sản miền núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặc sản miền núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Lạp xường Bắc Kạn hun khói món ngon nổi tiếng

Lạp xường hun khói của miền núi là một trong những món ngon đặc sản của các dân tộc. Đặc biệt lạp xường Bắc Kạn có một vị đặc trưng không trộn lẫn ở các vùng quê khác hãy cùng tim kiếm và chia sẽ hương vị về món ngon đặc sản của Bắc Kạn này nhá.

Mỗi dịp tết đến, đã thành lệ, cứ đến khoảng 27, 28 tháng Chạp, người dân khắp các bản làng ở Bắc Kạn lại nô nức rủ nhau mổ lợn. Cứ hai, ba nhà chung nhau đụng một con. Thịt để làm nhân bánh chưng, làm các món kho, nướng, quay, luộc… ăn trong mấy ngày tết. Và bao giờ người ta cũng dành ra một ít lòng non, một phần thịt để làm lấy một vài cân lạp xường (có nơi còn gọi là lạp xưởng hay lạp sườn).


Làm lạp xường cũng rất cầu kỳ và công phu. Đầu tiên phải chọn lòng để làm lớp vỏ lạp xường. Lòng non để làm lạp xường phải chọn đoạn lòng đắng vì phần lòng này dai và khá dày, làm lạp xường mới được. Sau khi tuốt rửa sạch lại phải bóc, lột bỏ lớp vỏ ngoài của lòng đi, chỉ lấy lớp màng mỏng bên trong. Việc bóc lòng không khó, chỉ cần khéo léo và nhẹ tay một chút. Lòng bóc xong, thổi hơi vào cho phồng lên, buộc chặt hai đầu, đem hong chỗ thoáng gió. Khoảng một tiếng đồng hồ, bộ lòng se lại, mỏng và dai như ni lông. Thế là được phần vỏ lạp xường.

Để làm nhân lạp xường hun khói người ta chọn loại thịt nửa nạc nửa mỡ. Bởi nạc nhiều, lạp xường sẽ khô, sác; mỡ nhiều, lạp xường sẽ nhão, ăn mau ngấy nên loại thịt thích hợp nhất để làm lạp xường là thịt vai. Thịt được lạng bỏ lớp bì, thái miếng vừa phải, ướp muối, đường, bột ngọt. Và không thể thiếu một ít rượu trắng, một ít nước gừng và một ít quả mắc mật khô xay nhỏ ướp cùng. Theo kinh nghiệm của đồng bào nơi đây thì ướp thịt với rượu trắng và nước gừng như vậy khiến cho lạp xường sẽ có mùi thơm rất đặc trưng, để được lâu mà không bị hỏng.

Công việc phức tạp nhất là nhồi lạp xường. Với một chiếc phễu và một chiếc đũa, từ từ dồn thịt vào cho đầy phần lòng non đã chuẩn bị. Để dễ làm, cứ nhồi được chừng hai ba mươi phân thì buộc lại thành khúc. Thỉnh thoảng lại lấy kim châm vài chỗ cho khí thoát ra để lạp xường khỏi nứt. Nhồi xong thì đem lạp xường đi phơi nắng cho khô dần. Hoặc đem hong trên gác bếp. Hơi ấm của bếp lửa sẽ làm lạp xường se lại, săn chắc. Lạp xường được nắng, được hơi lửa, cứ ánh lên màu đỏ hồng của thịt nạc xen những đường vân trắng ngà của thịt mỡ trông thật hấp dẫn. Ngày 27, 28 làm lạp xường thì khoảng mồng 2, mồng 3 tết là ăn được.

Lạp xường hun khói khi đã khô thì để nguyên cả khúc đem chiên cho chín sau đó mới thái lát, khi ăn chấm với mắm gừng. Hoặc thái lạp xường thành các khoanh dầy vừa phải, chờ cho mỡ trong chảo thật nóng già thì cho lạp xường vào, đảo lên, rưới thêm ít nước mắm, rắc thêm chút hành tươi. Đĩa lạp xường hun khói thơm phức, mới trông đã thấy thèm. Cho nên ngày tết, dù có bao món ngon, lạp xường vẫn là món được mọi người đụng đũa nhiều hơn cả.

Lạp xường được làm bằng bàn tay của người Bắc Kạn có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mùi mắc mật thơm một cách đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Thêm chút rượu nữa thì càng thêm khoái khẩu.

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Đặc sản rựu men lá của người Nùng, Bắc GIang

Rựu men lá, một tên loại rựu vô cùng lạ tai chắc hẳn chưa nhiều người miền trong biết được loại rựu này. Rự men lá của người Nùng là một trong những đồ uốn nổi tiếng của Bắc Giang và của vùng núi nơi đây mà ai khi nghe tên cũng mong một lần được thưởng thức loại rựu men lá này.
Ai đã từng đến vùng đất vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), được thưởng thức rượu Kiên Thành – loại rượu được ủ bằng men lá đặc trưng của dân tộc Nùng nơi đây chắc không thể nào quên. Đó là rượu có hương thơm tự nhiên của lá cây rừng, uống rất dịu êm và đặc biệt là không bị đau đầu… hơn hẳn nhiều loại rượu khác.

Rựu men lá đặc sản của người Nùng

Rựu men lá đặc sản nổi tiếng nơi đây.

Cùng với các sản vật thơm ngon nổi tiếng của quê hương Lục Ngạn như vải thiều, cam đường Canh, nếp cái hoa vàng, mỳ Chũ, mật ong… thì từ lâu, sản phẩm truyền thống rượu men lá của người Nùng ở xã Kiên Thành (hay còn gọi là rượu Kiên Thành) đã được nhiều người biết đến như một đặc sản của vùng đất vải thiều. Chính bởi những đặc trưng riêng không thể pha chộn như: rượu luôn dịu êm dễ uống (dù nồng độ cao); luôn có hương thơm tự nhiên của lá cây rừng và đặc biệt là thực khách không bị đau đầu cho dù có vô tình uống đến say… nên sản phẩm rượu men lá Kiên Thành ngày càng được nhiều người ưa chuộng.

Tuy nhiên, để trưng cất được những giọt rượu men lá Kiên Thành thơm ngon nổi tiếng, bà con dân tộc Nùng ở nơi đây đã phải vất vả thực hiện nhiều công đoạn từ: việc lên rừng hái lá làm men, đến việc chọn gạo nấu cơm, rồi bắt men lá vào cơm, sau đó ủ men, rồi trưng cất rượu… Trong đó, mỗi một công đoạn lại đòi hỏi kỹ thuật và cả sự tỉ mỉ khéo léo riêng.

Để tìm hiểu sự tinh túy của rượu men lá Kiên Thành, chúng tôi đã tìm đến gia đình ông Lăng Văn Nam, dân tộc Nùng ở thôn Gai Đông, xã Kiên Thành, người đã có hơn 20 năm kinh nghiệm làm men lá rừng để cung cấp cho người dân địa phương nấu rượu. Ông Nam cho biết, nguyên liệu để tạo nên những chiếc men lá gồm có 5 loại cây theo tiếng Nùng gọi gồm: Cây trăm rễ, lá cây giời giời, cây hoa vàng, lá cây tai chó và cây vạt hương. Thiếu đi một loại lá cây rừng này, thì chất lượng rượu nấu sẽ ít thơm và không ngon. Sau khi vất vả đi hái đủ 5 loại lá cây này rồi, đầu tiên sẽ phơi khô nhằm bảo quản tốt. Bước tiếp theo đun dây và lá cây giời giời lên lấy nước để nguội, sau đó ngâm với gạo khoảng 2 tiếng. Sau khi ngâm xong đem gạo và 4 loại lá còn lại đi nghiền nhỏ về lặn lẫn với bột gạo, rồi ủ vào chấu và phủ kín lên.
Thêm chú thích


Thêm chú thích

Công đoạn trưng cất rượu và thử rượu men lá vừa mới trưng cất

Đó là những công đoạn cần thiết để tạo nên những quả men lá đặc trưng trong cách nấu rượu của người Nùng ở Kiên Thành. Tuy nhiên công đoạn nấu rượu Kiên Thành cũng công phu không kém. Với hơn 10 năm kinh nghiệm nấu rượu men lá Kiên Thành, hiện gia đình anh Lương Văn Vượng, chị Phùng Thị Thảo trung bình mỗi ngày nấu được gần 100 lít rượu để cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh Bắc Giang. Theo chị Thảo, muốn nấu rượu men lá ngon, trước tiên phải chọn được men lá của gia đình bảo đảm chất lượng. Sau đó chọn gạo ngon nguyên chất về xay ra. Lúc nấu cơm phải nấu thật chín rồi “bắt men lá” vào cơm cho đều đến từng hạt (bắt men càng đều thì sau này rượu càng ngon); tiếp đến phải ủ kín cơm đã bắt men vào thùng nhựa kín từ 2 – 3 ngày, không được mở; tiếp đến cần ủ khô cơm đã bắt được men lá từ 10 đến 12 ngày nữa. Sau đó mới được đổ nước vào cất thành rượu. Ở công đoạn trưng cất rượu, bà con người Nùng sử dụng phương pháp cất ba ba (lưu ý ba ba phải được làm bằng gỗ mít và ống dẫn rượu được làm bằng tre thì rượu mới ngon); trong quá trình cất phải đun đều lửa, không cho cháy to quá cũng không nhỏ quá để rượu ra từ từ. Nếu đun to qua rượu ra nhanh sẽ mất mùi thơm. Thông thường mỗi kg gạo bà con nơi đây trưng cất được 1 lít rượu men lá.

Cũng bởi những đặc trưng của rượu men lá Kiên Thành là uống dịu êm và có hương thơm tự nhiên nên không ít người lần đầu uống rượu Kiên Thành cứ ngỡ rằng rượu nhẹ, họ thoải mái nâng ly trong cuộc vui rồi say tự lúc nào không biết. Có một điều hay là tuy chếnh choáng hơi men của rượu Kiên Thành nhưng người uống không bị đau đầu và khi hết hơi rượu lại tỉnh táo như thường, không bị mệt mỏi. Vì thế mà đã từ lâu, rượu Kiên Thành đã trở thành thương hiệu nổi tiếng sáng ngang cùng với các sản vật khác của núi rừng Lục Ngạn như vải thiều, mỳ Chũ, mật ong…

Nhớ hương vị xôi trứng kiến Lục Ngạn, Bắc Giang

Xôi trứng kiến Lục Ngạn, thưởng thức món xôi trứng kiến lạ lẫm khó quên, về Lục Ngạn Bắc Giang thưởng thức đặc sản có một không hai là món xôi được làm từ trứng kiến. Hãy cùng với đặc sản miền bắc tìm hiểu thêm về món xôi trứng kiến đặc biệt này nhá các bạn.
Xôi trứng kiến một món ăn đặc sản khó quên của Lục Ngạn
Kiến đen thường làm tổ trên thân vầu. Những bãi vầu mọc ken dày đặc là nơi cư ngụ của loài kiến đen. Tổ kiến to bằng hai, ba vốc tay, dễ trông thấy từ xa. Tổ thường được xây chỗ đốt cây vầu có mắt và chỉa ra cành dăm. Đó là chỗ bám chắc nhất.

Lấy trứng kiến làm món xôi đặc sản

Đi lấy trứng kiến chẳng có gì khó. Vít cây vầu, chặt những tổ kiến đem ra chỗ đất trống. Sau đó cầm dao bổ đôi tổ kiến, gõ cho trứng rơi xuống mẹt. Những cái trứng trắng phau nhỏ như hạt gạo nếpvung vãi. Những con kiến thợ bị rũ ra từ trong tổ bất giác bừng tỉnh thấy cuộc sống bị đe dọa, chúng rối rít ôm lấy một quả trứng rồi lao đi tán loạn dù chẳng biết có thoát hiểm không, nhưng còn sống còn đi, và không thể quên bồng theo quả trứng. Một bản năng về trách nhiệm duy trì giống nòi luôn thức trong loài vật li ti lớn hơn đầu que tăm. Mỗi khi một con bám được vào tay người chúng giận dữ ghé chiếc hàm bé xíu cắn rứt gây ngứa ngáy đến khó chịu. Lấy được bát trứng kiến về làm xôi, người ta phải phá đến cả vài chục tổ kiến và hàng triệu kiến đen tan nát cửa nhà, hàng triệu kiến đen lìa đời.

Sau khi rũ được lưng mẹt trứng thì dùng khăn ẩm phủ lên mặt mẹt rồi kéo qua kéo lại cho nhũng con kiến chết dính hết vào lớp tua sợi trên mặt khăn, làm cho đến lúc mẹt trứng trắng phau.

Được bát trứng kiến đồ xôi quả thật là một kỳ công.

Vị bùi béo đậm đà khi được ăn bát xôi trứng kiến bám riết tuổi thơ tôi, bám riết cả cuộc đời, kèm nỗi buồn thoáng chốc khi nhớ đến đàn kiến đen tán loạn…

Mùa xôi trứng kiến bây giờ chỉ còn ẩn trong kí ức.

Những bãi vầu, bãi hóp, bãi vẫn từ lâu đã không còn. Tôi bảo đó có phải là lí do để kiến đen thôi không còn làm tổ, thì thằng cháu con ông bạn vong niên cho biết: "Bây giờ rừng chia, khoảnh nào có chủ ấy nên không có những đàn trâu thả rông như những năm xưa. Không có trâu thả rông thì không có phân làm vật liệu cho kiến đen xây tổ. Với lại bây giờ trâu còn rất ít lắm, còn bao nhiêu ruộng mà cần đến trâu….

Cuộc sống đã chuyển sang hướng khác. Bát xôi trứng kiến chỉ còn trong kí ức lớp người như tôi. Những lớp sau này sẽ chỉ còn biết xôi trứng kiến trên tài liệu ghi chép.

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

Thịt lợn hun khói treo gác bếp đặc sản của vùng cao Hà Giang

Đặc sản Hà Giang - vùng núi cao đồng văn nổi tiếng với các món rừng, dân dã và đậm chất truyền thống xa xưa, nếu được một lần đến đó chắc hẳn quý vị được rất nhiều lời mời thưởng thức những món ngon vật lạ nơi cao nguyên đá nổi tiếng này.
Lợn hun khói treo gác bếp, món ngon độc đáo của người miền núi.
Một cách chế biến thịt lợn độc đáo của người vùng cao là thịt treo gác bếp. Món ăn này có thể để dành cho cả năm. Món này cũng làm người ta dễ liên tưởng đến một món ăn rất hiện đại của Phương tây đó là món thịt lợn hun khói. Tuy nhiên để chế biến thành công thịt lợn gác bếp đòi hỏi sự kỹ lưỡng và những kinh nghiệm mà chỉ có đồng bào nơi đây mới biết. Thường món thịt rất khó bảo quản, dễ ôi thiu. Thế nhưng đồng bào nơi đây bằng những công cụ thô sơ, không máy móc hiện đại lại có thể giữ được mùi vị của thịt trong suốt một năm. Lạ kỳ hơn nữa theo đồng bào lợn càng treo gác bếp lâu càng ngon. Điều này chính là nét độc đáo, khó hiểu trong văn hóa ẩm thực vùng cao mà không phải dân tộc nào cũng có.

Đúng như tên gọi, chế biến thịt để treo gác bếp rất đơn giản. Khi con lợn được phanh ra, người ta cắt thành từng miếng nhỏ, dọc theo sườn. Bỏ thịt lên nia xát muối, bóp rượu, bóp nước vắt từ một loại lá trong rừng, rồi cho vào chảo ủ ba đến bốn ngày, sau đó rửa nước đun sôi để nguội, phơi ráo nước rồi treo trên gác bếp. Quá trình hun khói thịt đòi hỏi phải liên tục, công phu và cả sự khéo léo cộng với vốn kinh nghiệm tích lũy lâu năm. Chính vì thế vào dịp Tết nếu có dịp đến vùng núi cao nơi đây bạn sẽ được chứng kiến bếp cả làng đỏ lửa, khói bếp hòa với sương núi lơ lửng khắp mọi nẻo đường tạo lên một khung cảnh mờ ảo như cõi thần tiên.

Ngoài việc sấy lửa, để cho thịt thơm, ngon, đồng bào còn lấy bã mía và ngải cứu rừng hun thịt. Những khổ thịt treo trên gác bếp được ướp rượu, gia vị, “ăn khói” cứ khô dần. Khi lớp da, thịt nạc chuyển sang màu bồ hóng, lớp mỡ chuyển sang màu trong là có thể yên tâm để ăn dần trong cả năm mà không lo thịt bị mất chất. Đến ngày Tết hay khi nhà có việc chỉ cần nhắc thịt xuống, bỏ vào chảo nước đun sôi cùng một nắm gạo nhỏ, mang ra rửa sạch rồi chế biến thành những món ăn khác nhau. Lợn gác bếp có thể xào gừng, xào rau cải nhưng ngon nhất vẫn là xào với rau rừng và giá đậu tương. Thưởng thức các món ăn chế biến từ thịt lợn gác bếp cho ta cảm giác rất lạ: bì giòn, mỡ trong không ngấy, thịt nạc đậm và tơi từng thớ. Cũng là món rau xào thịt nhưng với cách làm riêng của đồng bào nơi đây món ăn như mang một màu sắc, linh hồn khác khó diễn tả, chỉ biết nó rất ngon, lạ miệng mà không giống với bất kỳ món ăn nào khác.
Đối với một số đồng bào các dân tộc vùng cao, thịt lợn treo gác bếp là món ăn truyền thống không thể thiếu trong những ngày Tết. Trong không khí vui xuân với tiết trời se lạnh, ngồi nhâm nhi bên chén rượu nồng có đĩa thịt xào rau rừng mọi người như gần nhau hơn, mùa xuân và núi rừng cũng như ấm áp hơn...