Hiển thị các bài đăng có nhãn đặc sản hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đặc sản hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Hương chè Lam nồng ấm vị quê hương

Từ trung tâm Hà Nội, theo đường cao tốc Láng-Hòa Lạc, chúng tôi tìm về xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất - một địa phương thuộc ngoại thành Hà Nội từ lâu đã được biết đến với di tích văn hóa quốc gia Chùa Tây Phương và cả đặc sản chè lam ngon nổi tiếng khắp trong Nam, ngoài Bắc.

Giữa cái lạnh của mùa đông, được may mắn thưởng thức miếng chè lam mới ra lò còn nóng hôi hổi, chúng tôi như càng cảm nhận rõ hơn vị dẻo thơm của nếp xen lẫn vị cay ấm áp của gừng, của quế và cả nét văn hóa độc đáo ẩn chứa trong cách thức làm nên món quà quê dân dã này.

Vừa thoăn thoắt đôi tay cắt chè lam thành từng miếng để cho vào hộp, chị Nguyễn Thị Xuân ở xóm Tây Phương, xã Thạch Xá vừa xuýt xoa: "Các cô về muộn, chứ nếu đến đây từ sáng sớm, sẽ được xem làm chè từ công đoạn đầu tiên, mới thấy hết kỳ công của người dân làng tôi để có được bánh chè lam ngon nổi tiếng xứ Đoài”.

Chị Xuân cho biết, tất cả nguyên liệu để làm chè lam đều bắt nguồn từ những sản phẩm nông nghiệp rất giản dị như bột gạo nếp, củ gừng già, thanh quế thơm, mật mía… Giống nếp cái hoa vàng có hương vị thơm và dẻo đặc trưng luôn là lựa chọn của người làm chè lam Thạch Xá để có được bánh chè ngon.

Khác với đa phần các loại bánh làm từ gạo, bột bánh thường được xay trực tiếp từ gạo; chè lam Thạch Xá cầu kỳ hơn, được làm từ “bông hoa bỏng” của gạo nếp. Gạo nếp rang dưới bếp lửa đỏ hồng sẽ nở bung, cho “bông hoa bỏng” màu trắng nở bung, thơm lừng. Sau đó, bỏng gạo được sảy cho sạch, đem xay ra thành thứ bột mịn nhưng vẫn giữ được vị thơm bỏng nếp mới được coi là đạt yêu cầu.

Sau khi đã có bột bỏng, người làm chè sẽ chọn những cây mía nhỏ nhưng có vị ngọt đậm, thơm lừng thường được gọi là mía de để kéo mật rồi nấu lên với mạch nha cho đến khi có được một hỗn hợp dẻo và trong suốt.

Nói thì đơn giản nhưng theo nhiều người ở làng chè Thạch Xá, không phải ai cũng có thể làm thợ lành nghề trong khâu rang gạp nếp hay nấu mật vì đôi tay rang phải vừa đảo thật đều, lại phải vừa biết điều chỉnh ngọn lửa sao cho hạt nếp nở bung thơm lừng mà lại không hề bị khét, cháy vàng.

Vì thế nên ngoại trừ những hộ làm chè quanh năm, còn đa phần các gia đình ở Thạch Xá, vào những tháng cuối năm, để chuẩn bị đón Tết hay mang đi làm quà phương xa, thường nhờ đến những tay rang bỏng thiện nghệ trong làng như các anh, các bác Nguyễn Văn Thạch, Nguyễn Huy Hiến, Nguyễn Huy Đông...

Sau khi đã có bột và các gia vị sẽ đến khâu cho bột bỏng nếp và các loại gia vị vào quấy đều trong chảo. Để quấy được bột ngon, người làm chè phải kiên trì, đảo đều tay cho tới khi toàn bộ bột dẻo đều và thấm trọn các loại gia vị mới đem đổ vào khuôn, cắt thành từng miếng nhỏ và đóng hộp.

Bí quyết để có bánh chè lam dẻo thơm, nồng ấm vị gừng, vị quế, hương nếp cái hoa vàng, theo người làm chè Thạch Xá chính là sự kết hợp của tất cả các khâu từ rang bỏng, giã bột, quấy, trộn bột và pha trộn tỷ lệ hợp lý các gia vị. Vì vậy, chè lam Thạch Xá dù có để lâu ngày vẫn dẻo thơm, không bị chảy nước cũng không bị khô khi mang đi làm quà nơi xa.

Chè lam Thạch Xá bây giờ không chỉ có một loại sản phẩm truyền thống là chè lam với mật mía (hoặc đường) trộn nước gừng, hương quế, lạc rang mà còn có cả chè lam thịt rán. Vào dịp cuối năm, khách hàng từ các nơi thường tìm về Thạch Xá để đặt mua loại chè lam thịt rán đặc biệt này, làm quà cho nguời thân.

Bác Nguyễn Huy Đông - chủ hộ làm chè lam thuộc diện ”tầm cỡ” ở Thạch Xá cho biết, để có được bánh chè lam nhân thịt rán thật thơm, ngon, người làm phải chọn loại thịt săn,chắc, ít mỡ để đảm bảo cho bánh chè vẫn giữ được độ dẻo tốt. Nếu không chọn thịt cẩn thận, bánh chè sẽ bị đọng mỡ, nước từ thịt sẽ bị vỡ và hỏng rất nhanh.

Theo số liệu của Ủy ban Nhân dân xã Thạch Xá, vào những tháng cuối năm, hầu như gia đình nào ở đây cũng nổi lửa, làm vài mẻ chè lam để dùng cho những ngày đông lạnh giá. Còn những hộ “chuyên “ làm chè với số lượng lớn, xuất bán đi các nơi cũng lên tới hàng chục hộ. Những dịp cao điểm như Tết cổ truyền, lễ hội…có hộ mỗi ngày bán được cả tấn chè lam thành phẩm.

Chè lam Thạch Xá - một đặc sản ẩm thực dân dã, tuy không cầu kỳ và hào nhoáng như nhiều sản phẩm bánh kẹo khác nhưng từ lâu đã có sức hút đối với người tiêu dùng bởi sự kết hợp hài hòa của các sản vật thân thuộc từ đồng đất quê hương. Đặc biệt, với những người con xứ Đoài ở xa, khi được thưởng thức phong chè lam - món quà quê cùng với chén nước trà nóng sẽ như cảm nhận rõ hơn vị quê hương nồng ấm, đậm đà ẩn trong hương nếp, mật mía lẫn vị gừng cay sâu nặng tự thuở nào./.

Bánh tẻ Phú Nhi

"Em là con gái Phú Nhi

Bánh đúc bỏ bị vừa đi vừa nhòm."


Phú Nhi không chỉ được biết đến với món bánh đúc, mà còn nổi tiếng với một thứ bánh dân dã là bánh tẻ. Ai đã từng về Phú Nhi hẳn sẽ được thưởng thức món bánh trắng ngần, thơm ngậy mang đậm nét ẩm thực xứ Đoài ấy.
a

Phú Nhi xưa còn gọi là Bần Nhi, một thôn cổ có từ cuối thế kỷ 19, thuộc tổng Cam Giá Thịnh được gọi là Cam Thịnh, huyện Phú Lộc, huyện Quảng Oai, trấn Sơn Tây, nay thuộc phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, Hà Nội là làng nghề truyền thống bánh tẻ nổi tiếng trong vùng.

Bánh tẻ, có nơi gọi là bánh răng bừa vì có hình dáng giống cái răng bừa, là thứ bánh truyền thống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Bánh được làm từ bột gạo tẻ, gói ngoài bằng lá dong hay lá chuối và được luộc cho chín.

Mỗi địa phương có cách làm bánh tẻ riêng, ít nhiều khác nhau. Có thể kể ra một số loại bánh tẻ nổi tiếng như bánh tẻ làng Chờ (Yên Phong, Bắc Ninh), bánh tẻ Phú Nhi, bánh tẻ Văn Giang (Hưng Yên). Tuy nhiên, bánh tẻ Phú Nhi lại mang hương vị riêng không lẫn với các vùng miền khác. Nguồn gốc của bánh gắn với câu chuyện tình mộc mạc, chân thành của đôi trai gái trong làng.

Chuyện kể rằng: Nguyễn Phú ở Giáp Ðoài, con bà Trọng làm nghề bán dầu vỏ, bố là người nông dân hiền lành chất phác. Phú thông minh, khuôn mặt sáng sủa. Còn Hoàng Nhi là con bà Hương làm nghề nấu bánh đúc hằng ngày đem bán ở chợ gốc cây gạo còng ngày xưa. Phú và Nhi biết nhau qua những buổi chợ hằng ngày, vì Nhi phải đem hàng cho mẹ, cuộc tình cứ thế lớn dần theo ngày tháng.

Nguyễn Phú đánh bạo sang nhà Hoàng Nhi trò chuyện. Hai người ngồi tâm tình mà quên mất nồi bánh đúc đang nấu dở trên bếp lửa, khi mở ra thì đã quá muộn nồi bánh đúc nửa sống, nửa chín, ngọn lửa của bếp đã tắt tự bao giờ. Chuyện đến tai bố Hoàng Nhi. Là người rất nghiêm khắc, phong kiến, ông tìm mọi cách ngăn cản. Ông cấm Nhi mang hàng cho mẹ. Thế là từ đó hai người mãi mãi chẳng có dịp được gặp nhau. Hoàng Nhi ốm nặng rồi chết.

Lại nói chuyện Nguyễn Phú khi xảy ra chuyện hỏng nồi bánh đúc, chàng mang nồi bột về nhà và nghĩ bỏ đi thì tiếc nên chàng ra vườn ngắt lá dong, lá chuối khô lau sạch rồi thái hành làm nhân. Một mình tự thao tác phết bột vào lá dong, cuốn lá chuối khô bên ngoài, lấy dây giang cuốn lại rồi bắc lên bếp đồ (luộc) khi có mùi thơm bốc lên, Phú đoán là bánh chín, bóc ra để nguội ăn thấy ngon hơn bánh đúc và thế là chiếc bánh tẻ ở buổi bình minh sơ khai đã ra đời từ đó.

Phú đã làm nhiều bánh để mẹ mang đi chợ bán và hàng bánh ngày càng đắt giá, gia đình Phú trở nên khá giả, giàu có. Bánh làm ra càng nhiều Phú càng nhớ Nhi nhiều hơn. Những ngày giỗ nàng, chàng tự tay cải tiến cách làm bánh và làm những chiếc bánh thật ngon để gửi sang nhà cúng tưởng nhớ người yêu xưa và chàng cũng không lấy vợ chỉ mà chuyên tâm cho nghề. Từ đó, chàng đã truyền dạy lại cho nhiều người cùng làng làm theo.

Bánh tẻ được nhiều người biết đến và trở thành đặc sản của làng Phú Nhi. Nguyên liệu làm bánh là những nguyên liệu gần gũi với cuộc sống người nông dân như gạo tẻ, thịt lợn, mộc nhĩ, hành… và lá dong, lá chuối để gói bánh.

Để bánh trắng, thơm ngon người làng chọn thứ gạo ngon chứ không phải gạo thường. Trước hết, gạo đem ngâm nước cho nở, xay thành bột rồi đem ngâm nước khoảng 3-4 ngày vào mùa Hè, 4-5 ngày vào mùa Đông. Trong thời gian ngâm phải thay nước hàng ngày, gạn bỏ nước cũ thay bằng nước mới, mỗi khi thay nước phải khuấy đều bột để bột không bị chua và nhão.

Khi đã đủ thời gian ngâm, múc bột ra, cho một ít muối vào, gạn sạch nước cũ để khử chua bột. Sau đó thứ bột này phải đun lên cho đặc lại, có độ dính như keo, vừa đun và quấy đều, đảo bằng cả hai tay cho bột mềm, mịn, tránh vón cục và đặc biệt là bột không được chín hoặc khê, công đoạn này người ta gọi là "ráo bột." Khâu ráo bột cực kỳ quan trọng trong quá trình làm bánh, bánh có ngon hay không là nhờ vào chất lượng bột được ráo. Phú Nhi có bí quyết riêng trong khâu ráo bột nên bánh tẻ ở đây có hương vị độc đáo.

Tiếp đến là công đoạn làm nhân bánh. Nhân bánh tẻ làm đơn giản nhưng không thể làm qua loa, vì nhân là linh hồn của bánh. Thịt ba chỉ ngon băm nhỏ, hành khô bóc vỏ băm nhỏ, mộc nhĩ ngâm cho nở, thái chỉ. Tất cả trộn đều ướp gia vị vừa đủ, thêm chút hạt tiêu cho thơm. Sau khi hỗn hợp đã ngấm gia vị cho lên bếp xào chín.

Khi công đoạn làm nhân bánh và ráo bột đã xong, tiến hành gói bánh. Người Phú Nhi thường dùng lá dong và lá chuối để gói. Lấy một lượng vừa phải thứ bột cô đặc đó đặt lên một hoặc hai tờ lá dong công đoạn này gọi là "ra bột." Lấy hỗn hợp thịt đặt lên lớp bột và ấn sâu xuống để bột phủ lên thịt, thường là theo hình thuôn dài, cuốn lá dong ngoài bánh, lớp lá ngoài cùng là lớp lá chuối. Bánh được buộc lại bằng lạt hoặc dây chuối khô, sau đó đem hấp khoảng 30 phút là chín.

Bánh ăn ngon nhất là khi vừa mới vớt ra. Bóc vỏ lá xanh, chiếc bánh trắng ngần hiển hiện, mùi thơm nhân thịt tỏa ra như chào mời thực khách. Bánh ăn nóng chấm với nước mắn ngon, thêm chút tiêu thì càng ngon hơn.

Bánh tẻ là thứ quà quê chân chất mộc mạc, thứ bánh mà ai cũng có thể thưởng thức. Khi ăn, dùng con dao nhỏ cắt bánh thành từng miếng, xếp lên đĩa. Ăn một miếng để cảm nhận kết tinh của trời đất, độ giòn của vỏ bánh, vị đậm, béo của nhân, thơm mùi tiêu, hành. Bánh có thể thay bữa sáng, ăn chơi, ăn nhiều mà không bị ngán./.

Tào phớ Hà Thành hương vị đậm đà khó quên

Hà Nội vốn là một thành phố phồn hoa, đô thị nhưng lại không thiếu những món ăn rất bình dị, dân dã, mà có lẽ thiếu nó thì không thể có một Hà Nội cổ kính đặc trưng như ngày hôm nay. Tào phớ cũng là một món ăn như thế.

Dù là những ngày Hè nóng bức, ngột ngạt, hay những ngày mùa đông lạnh lẽo, buốt giá, những tiếng rao quen thuộc “Ai phớ..ớ.. đây! Phớ nóng đ...â...y...” vẫn vang lên đều đặn, đem đến cho người Hà Nội một cảm giác vừa thật quen, thật lạ.

Lạ bởi giữa phố phường ồn ào, hối hả vẫn thấy những gánh hàng rong hay những chiếc xe đạp đặc biệt chở những thùng tào phớ, rong ruổi khắp các đường phố, hang cùng ngõ hẻm, đem đến một món ăn rất thơm ngon mà đậm chất quê hương.

Vào những ngày Hè nóng nực, tào phớ thực sự là một món ăn “mát, giải nhiệt”. Chế biến tào phớ rất đơn giản, đậu tương sau khi được xay nhuyễn sẽ đem ép và lọc bã để ra được khối lỏng mềm mịn gọi là óc đậu. Óc đậu được đặt trong thùng tôn, hay trong những chiếc xoong nhôm nhỏ, khi có khách, người bán mới xắt óc đậu ấy ra bát (thường là dùng vỏ xà cừ để xắt) cho thêm nước đường cùng cánh hoa nhài hoặc hoa bưởi vào để tạo hương thơm.

Nhiều vị khách cầu kỳ hơn thì thay nước đường bằng nước đậu (cũng được làm từ đậu tương, nhưng chắt lọc lấy nước chứ không phải là óc đậu) hay chút thạch đen để tạo nên một hương vị riêng cho mình. Khi thưởng thức bát tào phớ mát lạnh, ta sẽ cảm nhận được mùi thơm thoang thoảng của hoa nhài, hoa bưởi, vị ngọt thanh của đường, vị mềm mịn, bùi bùi của đậu… Ăn một miếng đã thấy tâm hồn sảng khoái, dễ chịu, dường như mọi mệt mỏi, nóng bức đều tan biến.

Với mùa Đông, món tào phớ nóng là sự sáng tạo đặc biệt của những người “thợ” chế biến khéo tay. Chế biến tào phớ nóng cũng đơn giản như tào phớ lạnh.

Điều đặc biệt ở tào phớ nóng là ngoài đường kính trắng thông thường, người ta có thể sử dụng đường đỏ để pha chế kèm theo một chút gừng cho thêm ấm bụng. Lúc ấy, tào phớ sẽ mang một hương vị rất đặc biệt mà ăn một lần bạn sẽ nhớ mãi. Có cảm giác vị cay lan tỏa dần cùng hơi ấm từ trong bụng.

Ngày nay dù cuộc sống đã có nhiều thay đổi, đời sống được nâng cao, người Hà Nội không thiếu những món ăn ngon nhưng những món ăn truyền thống dân dã như tào phớ vẫn rất được ưa chuộng. Trong khí trời rét mướt của mùa đông, người ta thèm hơn cảm giác đầm ấm khi được ngồi bên gánh hàng rong và thưởng thức bát tào phớ nóng thơm ngọt.

Tào phớ giờ đây đã trở thành một món ăn quá đỗi gần gũi thân thuộc với người Hà Nội. Hình ảnh những gánh tào phớ rong ruổi trên đường phố, ngõ hẻm đem đến cho ta một cảm giác về một làng quê thật thanh bình, yên ả.

Có lẽ vì thế mà người Hà Nội gắn bó với tào phớ không chỉ bởi vị thơm ngon, man mát của nó mà còn bởi một hương vị rất đặc trưng, riêng biệt - hương vị của quê nhà./.

Bún chả Hà Nội nhất định phải ăn khi ra Bắc

Nhắc đến ẩm thực miền Bắc đặc biệt là đặc sản Hà Nội không thể biết đến bao giờ mới kể hết các món ngon đặc sản được. Bún chả cá Hà Nội là một trong những món ngon đặc biệt đó. Không giống như bún thịt nướng trong Nam, Bún chả Hà Nội có một nét rất riêng, một đặc sản nổi tiếng không thể không thưởng thức khi ra Hà Nội được. Hãy cùng đặc sản miền Bắc điểm danh món bún chả cá Hà Nội nổi tiếng này nhá.
Không phải tự nhiên, bún chả trở thành một trong những món quà bún được cả Thạch Lam hay Vũ Bằng hết lời ca ngợi. Cái món ăn giản dị mà thấm đậm hương vị làng quê Bắc Việt này cũng là thứ quà mà ai bước chân đến Hà Nội cũng cần thử.
Bún chả Hà Nội món ngon không thể chối từ
Cũng giống như nhiều món quà vặt, quà bún khác, bún chả có lắm địa chỉ ngon nổi tiếng ở Hà Nội bởi mỗi người lại có một địa chỉ ruột cho mình. Tuy vậy, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ xin các bạn vài phút để đọc qua thêm về 3 hàng bún chả mà theo như chúng tôi thấy là có giá vừa phải mà hương vị vẫn vô cùng thơm ngon, đúng điệu.

1. Bún chả chợ Ngô Sỹ Liên


Hàng bún chả Hà Nội này nhỏ thôi, ai tinh ý và quen mới biết đường mà rẽ vào khi băng qua khu đông đúc này. Quán chỉ có vài bộ bàn ghế đơn giản nhưng nếu bạn đi đông, chủ hàng vẫn sẽ vui lòng mà kê thêm ra ngoài.

Nói về vấn đề chính, bún chả ở đây thì có gì đặc biệt hơn? Có gì ngon hơn? Chắc tại là khâu tẩm ướp, bác bán hàng đã làm rất thơm và vừa miệng rồi, khi nướng lại kẹp cùng lá lốt. Miếng chả thấm gia vị, thấm cả hương thơm chắt chiu từ miếng lá mỏng nên dậy mùi thơm phức. Nước chấm bác bán hàng lại pha vừa, chấm miếng thịt vào đó, rồi ăn kèm một ít bún rối, vài ba miếng đu đủ xanh giòn giòn, ăn đến đây thì bạn có ghét ăn món bún chả cũng chuyển dần sang... thinh thích.

Giá bún chả ở đây cũng không đắt, chỉ khoảng 30k cho một suất. Quán bán vào buổi trưa nhưng vì quá nhỏ mà lại đông nên bạn hãy tranh thủ đến sớm để được phục vụ tận tình hơn nhé.

2. Bún chả que tre Lương Ngọc Quyến

Nằm ở đầu ngõ Phất Lộc trên phố Lương Ngọc Quyến, có một hàng bún chả que tre khá nổi. Quán nhỏ, chẳng có biển hiệu, chẳng có cửa hàng mà chỉ có vài bộ bàn ghế, vậy nên vào những hôm trời mưa, bạn nên tránh đến.

Bún chả ở đây, ngon hơn nhiều nơi thì cũng không phải, nhưng chắc chắn, bạn ăn lần một sẽ muốn ăn lần hai, rồi lần ba và từ từ trong bạn sẽ dần hình thành cái thiện cảm vui tươi mỗi khi ngồi xuống ăn bún chả ở đây. Chả được nướng hoàn toàn bằng que tre, thế nên miếng thịt bên ngoài thì xém giòn giòn, bên trong lại cứ mềm lừ đi, rồi có khi bạn còn thấy cả cái hương vị thơm hăng của tre nữa. Tuy vậy, miếng chả ở đây tẩm ướp không thực sự đặc sắc lắm, nước chấm lại hơi đậm, cũng là một điểm trừ cho quán nhưng nhờ món chả được nướng khéo, chúng mình nghĩ nó cũng đáng để bạn đến ăn thử một lần lắm đấy.

Giá một suất bún đầy đủ ở đây là 30k, cũng không quá đắt cho một hàng bún ở tận trên mạn phố cổ, các bạn nhỉ.

3. Bún chả Hàng Quạt

Bạn sẽ phải mò mẫm mất một lúc mới tìm thấy hàng bún chả này đấy, bởi nó chẳng có biển hiệu gì cả ngoài một địa chỉ: ngõ 74 Hàng Quạt. Cũng giống như hai hàng bún chúng tôi vừa giới thiệu ở trên, hàng bún chả này cũng nhỏ lắm, vài bộ bàn ghế bày dọc trong ngõ là đủ để các thực khách đến ngồi ăn mỗi buổi trưa rồi.

Bún chả ở đây, ngon chắc cũng bởi được nướng rất khéo, nhất là chả viên. Nhiều người không thích ăn chả viên nhưng đều phải công nhận, chả viên ở đây rất ngon. Miếng chả nhỏ xinh, nướng cháy xém bên ngoài nên ăn có mùi thơm nồng rất thích, bên trong thịt lại mềm, đượm hương gia vị tẩm ướp cẩn thận. Ưu điểm nữa ở đây là một tô bún chả được cho rất nhiều chả và thịt, đôi khi bạn ăn còn chẳng hết nữa đấy.

Một suất bún ở đây bạn ăn no có giá rơi vào khoảng 30-35k, một mức giá hoàn toàn chấp nhận được trong thời buổi cái gì cũng đắt đỏ như thế này.

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

Bún Thang - món ngon đặc sản của Thủ Đô

Bún thang Hà Nội là một món ăn ngon, khó cưỡng mổi khi có dịp du lịch tới thủ đô. Bún Thang đặc sản mang đậm hương vị đặc trưng của ẩm thực Hà Nội mà bạn không thể nào quên được.
Ở Hà Nội, các món quà gốc bún quả là nhiều: bún ốc, bún riêu, bún sườn, bún bung, bún chả và bún thang... Mỗi thứ mỗi ngon, mỗi thứ mỗi hương vị nhưng bún thang vẫn là thứ bún nổi tiếng hơn cả.

Bún thang đặc sản thủ đô Hà Nội
Nếu nói như Vũ Bằng nhìn bát phở cho ta cái cảm giác của bức hoạ lập thể bạo màu thì quan sát tô bún thang cho ta cái cảm giác đang được ngắm bức tranh phong cảnh trong trẻo của Sông Stêbơn, mà ở đó những mảng màu nguyên chất được đặt gần nhau chứ không pha lẫn. Một ít rau răm mùi tàu xanh ngát, sau đó là các thứ nguyên liệu thực phẩm khác dải đều trên nền bún trắng. Một nhúm trứng tráng mỏng tang thái chỉ màu điệp, một chút lườn gà xé phaymàu trắng ngà, kế đến là giò lụa thái sợi màu hồng nhạt, cuối cùng rắc tôm bông. Ở chính giữa là lòng đỏ trứng mặn, xung quanh lác đác mấy lát lạp xườn đỏ viền miệng bát. Tất cả như một bông hoa mà nhụy là khoanh trứng màu vàng sẫm. Cuối cùng nước dùng nóng rẫy được chan thật vừa bát cho người ăn.

Ăn bún thang ở hàng tất nhiên là đắt nhưng thực sự là ngon. Bún thang làm ở nhà không sao địch nổi. Cho nên dù tốn kém, nếu thích các món chế biến hết sức cầu kỳ tẩn mẩn này cứ phải ra hàng nổi tiếng, bởi ở nhà không thể có nồi nước dùng ngọt như vậy. Các bà nội trợ khẳng định phải có đủ 20 thứ mới làm được bún thang ngon. Tuỳ theo khẩu vị từng người mà bún thang có thể gia giảm thêm chút mắm tôm vào bát

cho dậy mùi. Trước kia bún thang Hà Nội và bánh cuốn là hai món ăn quý, nhưng ngày nay nó đã được bình dân hoá và bán khá nhiều ở các khu chợ, ngõ phố, nhưng sức hấp dẫn của nó với thực khách thì vẫn như xưa. Người Hà Nội vẫn coi bún thang như một thứ đặc sản của đất lề.

Cốm làng Vòng.. thương hiệu đặc sản khó quên Miền Bắc

Cốm làng vòng, đặc sản cốm làng vòng một trong những món ngon đặc sản nổi tiếng xứ kinh Bắc. Cùng đặc sản miền Bắc điểm danh những món ngon nổi tiếng của miền Bắc.
Cứ mỗi độ sen tàn, nắng thu lan tỏa trên những phố phường là lúc người dân Hà Nội nghe văng vẳng tiếng rao cốm, hay nhìn thấy những quang gánh, xe đạp chở mẹt cốm dạo qua thành phố.
Cốm làng vòng đặc sản nổi tiếng Hà Nội
Miền Bắc có nhiều làng làm cốm nhưng không đâu nổi tiếng bằng thương hiệu cốm làng Vòng. Người ta đồn rằng có một năm nọ lúa còn đang non đã bị lũ lụt, gây ngập úng, người làng tiếc lúa mới đem sàng sẩy, lấy hạt lúa non ra rang. Không ngờ, món ăn tưởng chừng “tạm bợ”, “chữa cháy” ấy lại làm nên chuyện.

Ngày nay, hương thơm dịu mát của cốm làm từ gạo nếp cái hoa vàng hảo hạng, gói trong những gói lá sen cũng tỏa ra hương vị không kém phần quyến rũ đã trở thành cái hồn của thu Hà Nội, không thể nào thiếu được mỗi độ nắng tháng 8 dập dìu kéo về.

Người làng Vòng làm cốm theo bí kíp gia truyền, chỉ truyền cho con trai chứ không cho con gái vì vậy tới này vẫn ít ai biết được đích xác vì đâu cốm nơi đây lại hơn hẳn những nơi khác. Nhưng những hạt cốm mẩy của nơi này được làm qua nhiều công đoạn công phu đến độ nào thì cũng nhiều người từng tìm hiểu qua.

Lúa để làm cốm không được thu hoạch lúc non quá vì sẽ làm cốm bị nát, cũng không già quá vì cốm sẽ cứng, ăn mất vị ngon. Người làm cốm đảo cốm rất dẻo, lửa phải được nhóm bằng bếp củi chứ không được dùng đến loại bếp khác.

Qua công đoạn sàng, sẩy, cũng có nhiều loại cốm khác nhau ra đời. Cốm lá me, nhỏ nhẹ như lá me, bay ra qua lần sàng, sẩy đầu, thường không bán mà người làm cốm để dành cho gia đình. Cốm rót ngon thứ hai, nhưng cũng rất ít. Cốm đầu nia “nước một”, “nước hai” được đem chia lên các xe, các gánh đem bán khắp phố phường. Đến cuối mùa thu, nếu có tìm cốm cũng chỉ tìm được cốm mộc cứng.

Ngoài món cốm quen thuộc trên phố để nhâm nhi thơm miệng, người Hà Nội còn có lắm biến tấu khác từ hạt cốm như chấm với quả chuối ngọt, đem làm bánh cốm, chè cốm, chả cốm… đều dẻo ngon khó cưỡng. Đặc biệt, món bánh cốm đã bao năm nay đều nằm trong mâm sính lễ ăn hỏi mà gia đình nhà trai mang tới hỏi cưới nhà gái, chứa đựng biết bao nét văn hóa của người Việt xưa.